Work Text:
Huỳnh Sơn không phải người ở đây, điều ấy vốn ai cũng biết.
Có một ngày kia, Sơn xách theo một túi du lịch cỡ vừa tiến vào làng chài, cậu đi thẳng tới một căn nhà ở cuối làng. Căn nhà cấp bốn sạch sẽ sơn màu xanh biển dịu mắt, Sơn bước đến, chờ người ra mở cổng, cậu cúi đầu chào gia chủ rồi cứ thế đi vào nhà. Người ta bảo Sơn chắc chắn là thanh niên trí thức thành phố và là người Hà Nội. Người dân thực ra cũng nào có hay cái giọng Hà Nội là thế nào, chỉ biết rằng Sơn nom thư sinh và có một chất giọng nhẹ nhàng rất êm tai. Cậu ta cao ráo, trắng trẻo, mái tóc đen mượt thường xuyên thả trước trán. Dân trong làng đoán chừng cậu khoảng hơn hai mươi một chút.
Mấy lời đồn về cậu trai tên Sơn xuất hiện nhiều lúc ban đầu, khi cậu mới đến, chọn ở trong căn nhà anh làng biển Duy Thuận như một lẽ tất nhiên, hỏi thì Thuận cũng ậm ờ không kể, đã vậy, khoảng thời gian đó Sơn cũng chẳng mấy khi ló mặt ra ngoài đường. Cậu chỉ ở rịt trong nhà, cơm nước chợ búa cũng có Thuận lo, có người đồn hay là cậu ta trốn nợ, có người lại đồn hay là cậu này và anh thanh niên Duy Thuận đẹp trai nhất làng có làm ăn gì mờ ám mà phải giấu giếm hết thảy như thế. Nhưng rồi dăm ba tháng qua đi, lại thêm một, hai, ba rồi năm năm nữa, dần dà, người ta đã quen với sự xuất hiện của Huỳnh Sơn.
Căn nhà trước đây của Duy Thuận chán ngắt.
Làng chài chủ yếu còn toàn người già và trẻ nhỏ, thanh niên lớn lên rồi chọn vào thành phố lập nghiệp, không mấy người chọn ở lại làm nghề đi biển. Đi biển vất vả, lại giống như ngày ngày đương đầu với mẹ thiên nhiên, có những nhà trong làng chỉ còn độc phụ nữ và trẻ em, vì đàn ông cha chú trong nhà đều đã chết trong những chuyến đi biển dài ngày. Vài người còn được đưa xác về chôn cất, những người khác mãi mãi nằm lại dưới lòng biển khơi.
Biển đêm đáng sợ, không gian xung quanh đen đặc quánh, người ngồi trên tàu chòng chành giữa những con sóng dữ vỗ ầm ầm vào mạn thuyền. Những ngày trời êm biển lặng, những tháng đi ra khơi rồi đem về tôm cá là những khi thần biển thương xót, có những chuyến mà khi ra đến giữa biển, nước sâu sóng dữ, trời bỗng nổi dông mà ngư dân không được thông báo trước. Gió lớn, dông lốc quật gãy cả cánh buồm gỗ, sóng chồm lên, thuyền phi đứng lên đầu ngọn sóng rồi lại bị đánh tụt xuống tận đáy biển. Tệ hơn cả khi thuyền chập chành muốn lật ngược là khi nhìn thấy đồng đội đi cùng bị sóng và gió lôi tuột xuống biển, rồi mãi mãi không tìm thấy người ở đâu nữa.
Tất cả, tất cả những dữ dội ấy đã khiến cho người làng chài đượm một vẻ khắc khổ buồn. Làn da ngăm đen rám nắng, da dẻ khô khốc vì nắng và gió biển mặn mòi và nước biển tạt vào thâu đêm suốt sáng.
Duy Thuận cũng chán ngắt như thế, căn nhà sơn màu xanh lợp mái tôn đỏ như hàng trăm mái nhà khác, khoảnh sân bê tông láng mịn, cánh cửa sắt kẽo kẹt từ đời tám hoánh nào để lại, không biết đã sửa bao nhiêu bận nhưng vẫn nhất quyết không thay.
Bỗng một ngày, trong khoảng sân vốn chỉ có dây phơi đồ lác đác mấy cái áo phông quần đùi của đàn ông lại xuất hiện một hàng những chậu hoa rực rỡ sắc màu, rồi một bộ bàn ghế gỗ do tự tay Huỳnh Sơn đóng, rồi mấy chậu cây kiểng mà dăm bữa nửa tháng người ta lại thấy Huỳnh Sơn lôi kéo ra cắt tỉa tạo hình và dùng dây thép buộc níu cành lại với nhau.
Thuận mở cho Sơn hẳn một xưởng gỗ, người trong làng ai đến thuê gì thì Sơn làm nấy. Đa số là đóng cái bàn cái ghế, đôi lúc là cái tủ hoặc chạn bếp, gì cậu cũng làm được. Ế khách, Sơn lại tự lôi mấy cái ván lướt sóng ra tỉ mẩn mài dũa và sơn phết.
Sơn không đi biển.
Cậu từng đòi đi nhiều lần, Thuận không đồng ý, anh và Sơn từng vặc nhau vài lần về chuyện này.
Thuận đành chịu thua. Một đôi ngày biển lặng và tàu đêm ra khơi, chỉ một đêm thôi, đánh bắt gần bờ rồi sáng hôm sau lại trở về đất liền, đem theo tôm cá ven biển bán cho người đi chợ sớm, anh cho phép Sơn đi theo mình.
Sơn thường thức suốt những đêm như thế, ngồi trên boong thuyền nhìn biển đêm đặc quánh, nhắm mắt lại nghe tiếng sóng vỗ vào mạn tàu, hít thử cái hương muối mặn mòi hòa cùng mùi tanh cố hữu của hải sản mà cậu đã quen lắm sau vài năm sinh sống ở nơi đây. Thuận đi kiểm tra tàu thuyền và nói chuyện với ngư dân đi cùng một lượt, sau đó cũng đến ngồi kế Sơn, vai chạm vai, đôi tay dài ngả về phía sau để chống đỡ cho cả thân mình rắn rỏi của dân đi biển lâu năm, ngón trỏ của anh đôi lúc chạm vào ngón tay Sơn, miết nhẹ rồi lại rời đi như chẳng có gì.
Sơn vẫn lặng yên, rụt đầu lại sau lớp áo phao cam rực mà Thuận bắt cậu phải mặc, nếu không sẽ không cho theo tàu. Mấy ông mấy chú đi cùng cười rộ lên chê Thuận cứ khéo lo, thanh niên trai tráng như nhau cả mà cứ cưng hứng như trứng mỏng. Thuận nhếch môi cười, mắt không có vẻ gì là vui, anh đưa cho Sơn cái áo phao, mắt lăm lăm nhìn cậu, Sơn đành phải nhận lấy.
Hai người ngồi bên nhau như thế rất lâu, nếu như ở đất liền, dù đêm có khuya thế nào vẫn có thể nhìn thấy quang cảnh xung quanh, nhưng ở đây thì không. Sơn tưởng chừng như biển có thể nuốt gọn mình bất cứ lúc nào. Nhìn ra khoảng không đen đặc quánh trước mặt, cậu không thấy gì khác ngoài một nỗi sợ cứ len lỏi lớn dần lên trong lòng.
“Ở đây không cách bờ xa lắm,” Thuận cất lời, giọng anh nhẹ nhàng, hòa cùng tiếng động cơ tàu đã cũ và tiếng sóng. “Nếu có chuyện gì bất trắc, ta có thể quay lại bờ ngay, em đừng lo.”
Bàn tay anh áp lên bàn tay Sơn, khẽ siết rồi rời đi.
“Những lần khác thì không.” Sơn cất giọng, cậu thấy lời mình vang lên khô khốc trong màn đêm.
“Hửm?” Thuận hơi nhíu mày, anh quay sang nhìn Sơn.
Cậu dựng thẳng người ngồi dậy, gương mặt trắng nhỏ rụt lại giữa cái áo phao màu cam nom rất đáng yêu.
“Những lần anh đi biển xa thì không. Anh ra khơi có khi là cả tháng trời, đôi lần thì lâu hơn, những lần đó anh không ở gần bờ, không thể trở về ngay nếu như xảy ra tình huống bất ngờ.”
Thuận nghe thấy giọng Sơn hơi nghẹn lại.
“Em làm quen với mọi người trong làng thế nào anh biết không?” Sơn hỏi, rồi không chờ Thuận cất lời, cậu nói tiếp, giọng nhanh như thể sợ mình sẽ vỡ vụn.
“Lần đó anh đi xa, được hai tuần gì đó thì đài báo ngoài đó có bão.
Em sợ đến bủn rủn chân tay, không kịp nghĩ gì mà chạy ngay sang nhà hàng xóm, mọi người cũng đang tụ tập trước màn hình TV để nghe dự báo thời tiết. Em nhìn mọi người, ai cũng lo lắng, không ai nói với ai câu nào, mọi người nhìn em, rồi lại quay trở lại với bản tin. Em không biết phải lên tiếng thế nào, chỉ biết chờ bản tin dự báo thời tiết kết thúc. Các cô ôm chặt mấy đứa nhỏ vào lòng rồi lẳng lặng mà khóc trong lo sợ, em biết, vì lúc đó em cũng sợ đến phát điên lên.”
Sơn ngừng một lúc, cậu nhìn ra biển, lại thở dài.
“Thế là, cứ mỗi tối em lại sang đó để nghe tin tức cùng mọi người, ban đầu còn lạ lẫm, sau đó em mới dám hỏi chuyện các cô các bà, rồi nghe mọi người kể chuyện chồng, chuyện cha đi biển. Lúc đó em vừa nghe vừa sợ, em cứ nghĩ nếu anh không về nữa, em sẽ thế nào. Những lúc ngoài khơi có dông bão, em lại trách mình tại sao không được ở cùng anh lúc đó, anh đi xa, đối mặt với đại ngàn, em ở nhà, chỉ biết chờ tin anh, mong rằng ngày tàu về em vẫn có thể nhìn thấy anh bước qua bãi cát, đi thẳng về nhà để chào em.”
Mũi Sơn đỏ như quả cà chua, cậu giật giật tấm áo phao đang mặc trên người:
“Cả thuyền chả ai mặc áo phao, anh lại cứ bắt em mặc.”
“Anh sợ em không quen mà…”
“Anh sợ em chết thì có.” Sơn bĩu môi. “Em nói em sợ anh chết thì anh ôm em rồi bảo em nghĩ nhiều, đến khi em đòi đi biển, dù là đi gần bờ thì anh cứ bắt em mặc áo phao, tốn ba ngày nhắc đi nhắc lại chuyện làm thế nào để tự cứu mình nếu lỡ có bất trắc xảy ra, anh thấy anh có mâu thuẫn không…”
Thuận kéo Sơn vào một cái ôm siết chặn đứng hết những lời trách móc đang trực trào ra từ khuôn miệng xinh xắn ấy. Anh vỗ lưng cậu qua lớp áo phao dày cộm, để cằm Sơn tựa lên bờ vai rắn chắc của anh, Thuận thủ thỉ:
“Rồi, rồi anh biết rồi. Vì anh lo cho em thôi mà, em quý báu với anh như thế mà không cho anh lo à. Anh quen đi biển rồi, anh biết mình cần làm gì mà.”
Đấy, anh lại như thế. Sơn thầm nghĩ.
“Chứ em không lo cho anh à. Anh là người em yêu nhất mà.”
Sơn nói mà giọng gần như khóc. Mấy chuyện này dễ làm cậu rơi nước mắt lắm. Cứ nghĩ tới người yêu có thể gặp nguy hiểm là Sơn lại không kìm được mình. Đằng sau làng là nghĩa trang, có nhà còn có đến năm nấm mồ mới đắp, đều là của ông, của bố, của các anh em sau một vài chuyến đi biển xa. Lễ tết giỗ chạp, lần nào đi qua nghĩa trang, Sơn cũng đều rảo bước đi thật vội.
Thuận chỉ ôm Sơn rồi không nói gì nữa, hoặc giả anh cũng không còn biết phải nói gì. Anh không thể bỏ nghề biển, lại càng hiểu nỗi lòng của người yêu.
Chả thế mà những bà mẹ có con cái lớn trong làng đều cố tình đẩy chúng lên thành phố, đứa học tốt thì đi học Cao Đẳng, Đại học rồi sau ra kiếm việc bàn giấy mà làm, đứa học kém hơn hoặc không chịu học thì vào thành phố đi học nghề xây dựng, sửa chữa, đi làm công xưởng chứ tuyệt nhiên không đi biển. Nghề biển cứ thế mà mai một dần, chỉ còn người lớn tuổi và một số ít những thanh niên như anh là còn theo nghề. Anh biết nó nguy hiểm, thế nhưng mình không làm thì ai làm. Anh từng vào thành phố học một vài năm, nhưng rồi vẫn chọn quay về làng, vẫn nhảy lên tàu thuyền rồi dong buồm ra khơi. Cũng từng đối mặt với sóng và gió bão gào rít trên đầu, cũng từng lao đao chòng chành giữa lòng biển đen đặc quánh, cũng từng dập dìu giữa ranh giới của sự sống và cái chết bao quanh lấy mình, tưởng rằng chỉ còn một hơi thở nữa là đứt lìa đời rồi, thế nhưng mở mắt ra, dưới lưng vẫn là sàn tàu ẩm ướt, trước mắt vẫn là mặt trời chói chang. Phước dày mạng lớn, anh đã thoát chết đôi lần như thế rồi, đứng giữa sống chết, Thuận thấy cũng chẳng còn gì đáng sợ.
Anh từng sống đơn độc một mình như thế, cả đời cứ vậy mà lầm lũi tiến lên, cuối cùng, Sơn lại bước vào đời anh, khuấy đảo sự lặng yên lầm lì ấy lên. Mảnh sân bê tông xám ngoét có thêm mấy chậu cúc cánh bướm tím hồng, Sơn trông thêm mấy loại cây cỏ gì đó rất lạ mắt, góc này một ít hoa hết tím rồi hồng rồi lại vàng, góc kia một vài chậu cây cảnh cong queo được cố định bằng dây thép. Căn nhà chỉ có mình anh với cái đài cát-xét từ thời bố anh mua, bỗng có thêm một cục wifi nhấp nháy đèn xanh treo méo xẹo trên góc nhà, một cái bàn với laptop luôn để mở, rồi hằng hà những món đồ của cậu lần những món đồ cậu mua cho anh được lấp đầy dần lên.
Cho đến một ngày khi anh ra khơi, gặp một cơn dông bất chợt tới mà trong đầu chỉ nghĩ tới nụ cười của Sơn và nỗi sợ sẽ để lại cậu một mình, anh biết mình đã xong đời rồi. Tính toán và kìm nén bấy lâu của anh đã đi tong hết rồi.
Sơn ở yên trong vòng tay của Thuận, cậu nhắm mắt lại, lòng ngứa ngáy khó chịu vì cậu biết vấn đề sẽ chẳng thể được giải quyết. Thuận sẽ không bỏ nghề đi biển, Sơn cũng sẽ không bỏ Thuận.
Ngày đó khi cậu mệt mỏi và tan vỡ nhất, cũng là Duy Thuận đã xuất hiện, ôm lấy và vỗ về tâm hồn đang nứt ra từng mảng lớn của Sơn. Cậu tới đảo với một chiếc túi du lịch đựng vài ba bộ quần áo mùa hè, một chiếc máy tính xách tay nhỏ và tấm vé máy bay chỉ duy nhất một chiều đi. Sơn không định ngày trở về, cậu chỉ lên máy bay, rồi chạy thẳng một mạch tới hòn đảo nhỏ hoang sơ này. Sơn gặp những người, nghe những giọng nói mà cậu phải lờ mờ đoán ý qua vài từ ngữ mà cậu nghe hiểu được. Cậu được giới thiệu về Duy Thuận, người chạc ba mươi, có ý định cho thuê nhà vì anh ta không mấy khi ở nhà. Ra khơi một lần thường ngốn của anh cả tháng trời, khi anh trở về, căn nhà thường thiếu hơi người, có chút ẩm mốc và chuột bọ thỏa sức hoành hành nên Thuận thường hay cho thuê ngắn hạn, coi như là có người trông nom nhà cửa cho những lúc anh đi vắng, cũng có thêm chút đồng ra đồng vào.
Ngày hôm đó, khi Sơn xuất hiện trước cổng, Thuận vừa mới trở về sau một chuyến đi biển dài. Cơ thể mệt mỏi, anh mời người bạn thuê nhà mới vào nhà, giải thích rằng mình sẽ ở nhà khoảng hai tuần nữa mới có chuyến ra khơi tiếp theo, nếu Sơn ngại, anh có thể sắp xếp cho cậu ở một căn nhà khác.
Huỳnh Sơn không có vẻ gì là sẽ ngại. Cậu hỏi phòng cậu ở đâu, Thuận chỉ vào một căn phòng còn trống, Sơn quăng người lên giường rồi ngủ một mạch đến tối. Cậu bay đến thành phố, rồi đi xe ra cảng tàu, rồi lại đi tàu ra đảo, rồi lại thuê xe ôm chở cậu từ bến tàu về làng. Một quãng đường dài và vô cùng mệt mỏi. Sơn thậm chí cũng chẳng kịp nhìn kỹ người cho thuê nhà của mình trông như thế nào.
Thẳng cho đến lúc cậu tỉnh dậy, trời đã nhá nhem, mùi thức ăn thơm nức xộc vào khoang mũi, Sơn nghe bụng mình réo inh ỏi. Lò dò tìm xuống bếp, cậu thấy một tấm lưng rộng và bờ vai vững chãi đang tất bật trong bếp. Mái tóc cháy nắng được cắt tỉa gọn gàng, người đó chìa cho cậu một cái gáy và làn da bánh mật rắn khỏe lộ da ngoài lớp áo ba lỗ màu trắng ngà.
Sơn khẽ ho một tiếng, anh quay qua nhìn cậu, gương mặt đượm chút mệt mỏi nhưng lại vô cùng điển trai.
“Cậu dậy rồi hả?”
Giọng dễ nghe hơn mình tưởng, Sơn đã thầm nghĩ thế khi người này nói giọng Sài Gòn khá chuẩn và dễ nghe, không phải là giọng nói nặng khẩu âm địa phương của dân trên đảo.
Cậu gật đầu, Thuận lại quay trở lại với nồi cá biển sốt cà chua đang đun trên bếp.
“Thấy cậu ngủ qua cả giờ ăn trưa, tôi nghĩ cậu mệt nên cũng không muốn đánh thức. Đói chưa? Tôi có nấu một ít thức ăn, đồ tàu đi câu về đó, tươi ngon trăm phần trăm.”
Sơn gật đầu đồng ý ngay, nhận ra Thuận sẽ không nhìn thấy, cậu tiến lại gần anh, khẽ nói:
“Anh cần giúp gì không?”
Thuận hơi giật mình quay lại, khuôn mặt Sơn đang kề đến sát vai anh, anh lại giật mình lùi ra xa một chút. Thoáng ngại ngùng không biết từ đâu mà đến, anh gãi đầu rồi chỉ ra bộ bàn ăn:
“Cậu sắp bát đũa ra đó là được rồi, tôi mang đồ ăn ra ngay.”
Sơn gật đầu ra vẻ đã hiểu:
“Vậy cảm ơn anh nhaaa.” Cậu dài giọng trước khi mở tủ bếp để lấy ra hai cái bát và hai đôi đũa.
Khách thuê nhà trước đây của Thuận thường đến vào ngày anh chuẩn bị ra khơi và ra về trước khi anh trở lại, nên có thể nói đây là lần đầu tiên anh ngồi ăn cơm cùng với một người lạ, không khí trên bàn ăn ban đầu có chút kì lạ, nhưng nhanh chóng bị Sơn hất văng đi. Cậu chàng ăn món cá sốt và canh chua một cách vô cùng tận hưởng, như thế nó là món ngon nhất mà cậu được ăn từ khi cha sanh mẹ đẻ tới giờ. Sơn cứ vừa ăn vừa khen không ngớt, chất giọng Bắc ngọt ngào cứ rót vào tai Thuận liên tục.
Anh khẽ thở dài trong lòng, vậy là hai tuần tới anh sẽ sống chung cùng cậu chàng này.
Sơn thực sự rất ít khi ra ngoài, trừ ngày đầu tiên cậu hỏi anh về cách lắp wifi, Thuận nói anh có thể lắp giúp cậu, Sơn cũng không khách sáo, cậu nói cảm ơn anh nhá rồi lại chui tọt về phòng. Chiều tối, cục wifi mới tinh đã yên vị trên góc nhà, Sơn đăng nhập vào wifi, sau đó lại im ỉm trong phòng tới tận giờ cơm. Cậu thú nhận với Thuận từ ngày đầu rằng bản thân không biết nấu ăn. Thời sinh viên thì đi ăn tiệm hoặc về ăn chực cơm mẹ nấu, lười quá thì úp gói mỳ với quả trứng là cũng ngon. Vì thế chuyện đi chợ, chuyện bếp núc trong hai tuần tiếp theo đó đều là Duy Thuận thầu cả. Sơn không kén ăn, món nào cậu cũng khen ngon, cũng hỏi anh cách nấu. Thuận nhờ Sơn một vài việc vặt vãnh trong lúc anh đứng bếp, ban đầu cậu trai thủ đô còn có chút lóng ngóng, rồi dần dần cậu quen việc dần, đến ngày Sơn thậm chí còn có thể tự nấu được một nồi canh chua cá, dù quá trình có hơi vất vả và hơi nhiều “Anh ơi phải làm gì nữa…” thì thành phẩm cũng có thể nói là rất ngon.
“Sắp tới anh phải đi xa một tháng, em phải tự học nấu ăn đi, ở đây nếu không có cơm tự nấu thì em chỉ có thể ăn mỳ gói thôi.”
Sơn nhẩm tính, ngày hai bữa mỳ gói, liền tù tì trong một tháng. Cậu rùng mình rồi trong mấy ngày cuối trước khi Thuận ra khơi, cậu theo chân anh học không sót món nào. Đi chợ, chọn tôm chọn cá chọn rau, chỉ duy nhất một thứ Sơn không chịu học là trả giá, ai nói giá nào cậu cũng xòe tiền ra trả, “đáng bao nhiêu đâu anh”, cậu thường nói vậy rồi hì hì ôm bọc tôm bọc cá về nhà.
Đó là lần đầu tiên Duy Thuận ra khơi mà trong lòng nhen nhóm mong muốn trở về nhà.
“Bao giờ em đi?” Đêm trước ngày đi anh đã hỏi câu đó.
“Em không biết.” Sơn cắn đũa, “Em ở tới khi nào chán thì thôi.”
Thuận không hỏi nữa, “chán thì thôi” là một cái thước đo thật chòng chành. Không dưới một lần trong tháng đi biển đó Thuận tự hỏi liệu khi anh trở về, Huỳnh Sơn đã chán hay chưa?
Thế nhưng ngày anh trở về, anh nhìn thấy Sơn đang đứng trên bãi cát. Cậu mặc chiếc áo phông mà anh khá chắc là của anh, đứng trên bờ khua khoắng tay chân loạn xạ về phía anh. Thuận chỉ kịp quăng tấm lướt vẫn còn mắc lại lũ cá con ở trên xuống đất, Sơn đã chạy nhào tới ôm, mặc kệ người anh vẫn đang dính nhớp mồ hôi và tanh mùi cá.
Cậu ôm anh một lúc lâu, sau đó buông ra, hai má phiếm hồng, mắt long lanh:
“Em nhớ anh thật đấy.”
Thuận thấy mặt mình hơi nóng lên, anh cắc cớ hỏi một câu:
“Nhớ anh hay nhớ cơm anh nấu?”
Sơn bĩu môi rồi quay ngoắt sang thúng cá to tướng vừa mới được hạ từ tàu đánh bắt xuống, cậu sà ngay xuống cùng ngư dân và bà con đi chợ sớm, ríu rít chuyện trò.
Lúc ấy Thuận rất muốn cười thật to, Sơn chưa chán, em vẫn ở đây, vẫn đứng trước mặt anh, tươi hơn hớn chạy ra chia cá cùng ngư dân đi biển về.
Sau lần đó, anh biết rằng có thứ gì đã đổi khác.
Lại một tuần trở về nghỉ ngơi, anh thấy trong sân nhà có thêm mấy chậu hoa sặc sỡ và một cái xe thể thao dựng gọn ở một góc sân, bên cạnh cái xe máy cà tàng của anh.
Sơn nói:
“Xe của anh khó đi chết được, em chạy xe đạp còn dễ hơn.”
Thuận lại phì cười, sau đó mỗi sáng khi ra sân bể đánh răng, anh lại tiện tay tưới cho mấy chậu hoa của Sơn một ít nước, rảnh rỗi thì đem xe đạp ra tra dầu, kiểm tra phanh xe, bơm lốp căng đầy cho cậu.
Xưởng mộc của Sơn được mở trong một ngày cậu ngẫu hứng làm ra một tấm ván lướt sóng. Biển không mấy khi có sóng lớn nhưng Sơn vẫn thích làm, vậy là Thuận dẫn cậu đi thuê một khoảng đất nhỏ, dựng xưởng rồi nhập gỗ về. Vậy là từ đó trong nhà có thêm mấy món đồ gỗ ngộ ngộ mà Sơn thường nghĩ ra trong lúc rảnh rỗi. Trong nhà đặt hai tấm ván lướt sóng mà Sơn làm, cậu nói một cái của cậu, một cái của Thuận, biết đâu sẽ có ngày được dùng. Thuận không nói gì, chỉ là mỗi lần trước khi đi đâu đó xa, anh lại đến sờ lên tấm ván như thể một lời lưu luyến, hoặc một niềm mong mỏi được trở về nhà.
Cuộc sống vốn có thể bình dị trôi đi, cho đến một ngày Thuận đi biển.
Cơn dông ập tới bất ngờ giữa lúc thuyền lênh đênh. Cũng còn khoảng một tuần nữa thuyền mới có thể về bờ. Bầu trời tối đi trong thoáng chốc, gió to và sóng dữ nổi lên như chực chờ kéo thuyền xuống dưới lòng biển. Thuận cùng anh em trên tàu chống đỡ, đều là anh em đi biển đã lâu năm, các anh biết phải làm gì trong tình huống này. Thế nhưng, thốt nhiên trong lúc đó, Thuận lại nhớ Sơn. Trái tim anh giống như bị treo lơ lửng ở trên đầu, Thuận chưa từng sợ, thế nhưng đó là lần đầu tiên anh hiểu được thế nào là nỗi sợ trước sự gầm rú không chút kiêng dè của biển cả trước mắt. Anh hiểu được ánh mắt của những người anh em đi biển, hiểu được tận sâu trong ánh nhìn đó là nỗi lo về vợ con, về gia đình của họ.
Lần đầu tiên Thuận lo và sợ, vì ở nhà đang có một người đợi anh.
Vượt lên trên tất cả những điều đó, anh bỗng hiểu ra, rằng hình như mình đã yêu Sơn mất rồi.
Thuyền vượt qua cơn dông dữ, anh em đốt nhang vái khắp đất trời rồi lập tức dong buồm về bờ.
Chuyến đó họ về, trên bờ người làng đã đứng chờ sẵn. Sĩ số anh em vẫn còn đủ, nhìn anh em lao vào vòng tay vợ con, Thuận thấy thật may vì không ai gặp chuyện.
Anh mệt mỏi tựa vào mạn tàu, hít thở thật sâu, cho đến khi nghe thấy một tiếng gọi xé tan cả bình minh:
“Thuậnnnnnn!”
Thuận ngẩng ngay lên khi nhận ra chất giọng Hà Nội mà chỉ mình Sơn có ấy, anh thấy hai mắt Sơn đỏ hoe, cậu lao nhanh về phía anh, lại một lần nữa ôm chầm lấy anh. Lần này, lẫn trong cái ôm siết chặt ấy là cả một chút run rẩy khó nói thành lời và sự lặng yên trong tiếng nấc nghẹn của Sơn.
“Em sợ, em và mọi người cùng sợ.” Sơn nói, gần như là lung tung hết cả, “Em sợ anh không về nữa.”
Thuận ôm lại cậu thật chặt, tay vỗ nhẹ lên lưng và gáy Sơn. Thật may, thật may vì anh không phải đối mặt với lòng mình đơn độc.
Thuận kéo Sơn về nhà, cả hai nắm tay nhau đi mà như chạy dưới ánh bình minh. Cánh cổng kẽo kẹt mở ra rồi đóng nhanh lại, Sơn kéo anh vào nhà, môi cậu phủ lấy môi anh ngay khi cánh cửa nhà được khép lại. Sơn kéo anh vào một nụ hôn sâu, đưa anh vào nhịp độ của trai thủ đô nồng nhiệt và tinh tế.
Thuận ngợp trước nụ hôn bất ngờ của Sơn. Cậu đã nắm tay anh chạy, im lặng và vội vã như thể đã tự mình ra một quyết định rất quan trọng. Thế rồi khi cả hai đã dần quen với nụ hôn ấy, Thuận tách Sơn ra, để cho cậu thở trong hõm cổ mình, không khí chỉ còn nhiệt độ nóng bừng của một thứ tình cảm vừa nở ra, Thuận vỗ gáy cậu, để anh cho em biết nhịp độ của trai làng chài nhé.
Thuận kéo Sơn vào một nụ hôn sâu, không chút kiêng dè, anh xộc lưỡi vào khoang miệng cậu, quấn quýt khám phá hết mọi ngóc ngách, tham lam như muốn hút hết tất cả dưỡng khí và hương vị của người anh yêu. Sơn ban đầu không theo kịp anh, nhưng rồi không hiểu Thuận đạp trúng công tắc hơn thua nào trong cậu, Sơn cứ thế vừa đuổi theo nhịp độ của anh, vừa kéo cả hai về phòng mình. Khoảnh khắc Sơn ngã xuống giường, đôi môi đỏ hơi sưng, viền môi đã không còn rõ ràng và một sợi chỉ bạc vẫn còn vương trên môi cậu, Thuận biết anh xong thật rồi. Sơn nhìn anh bằng đôi mắt lúng liếng loáng nước, tóc mái thả xõa rối loạn trước trán, da thịt trắng ngần lộ ra khỏi tấm áo phông của anh, trong đầu anh giống như có một trái bom vừa bị kích nổ. Thuận không nghĩ được gì nhiều nữa, anh đổ người đè lên cậu, vừa hôn vừa cắn lên đôi môi đã sưng đến không rõ viền môi kia.
Sơn rên lên như một con mèo nhỏ trong lòng anh. Cậu nhảy cảm quá mức, từng cái hôn Thuận rải lên hõm cổ, lên ngực, lên bụng và hõm nhân ngư của Sơn đều làm cho người cậu cong lên và cổ họng khe khẽ kêu, khiến anh cảm thấy như bản thân đang bắt nạt cậu vậy.
Thuận nắm lấy cạp quần Sơn, anh chồm người lên ngậm lấy môi Sơn, vừa hôn vừa nhẹ thủ thỉ:
“Anh làm nhé, được không em?”
Sơn hết biết nói gì, Thuận làm cậu mụ mị cả đầu óc, nước mắt sinh lý ứa ra từ khóe mắt, anh lại đưa lưỡi liếm sạch. Cậu hôn anh sâu hơn thay cho lời đồng ý.
Có được sự cho phép, anh không còn kiêng dè gì nữa. Sơn cong người và bấu chặt vào người Thuận dưới từng đợt tấn công dồn dập của anh. Ở Thuận có một chút ngô nghê của người lần đầu tiên chạm vào tình yêu, nhưng cũng lại mạnh mẽ không hề kiêng nể, Sơn bị anh quần thảo tới mức bủn rủn chân tay, có một vài khoảnh khắc cậu tin là mình đã khóc mẹ nó rồi, vì sướng hay vì điều gì thì cậu không chắc lắm. Thuận yêu cậu một cách đắm đuối và mãnh liệt như từng đợt sóng trào dâng, chồm lên và nuốt chửng lấy Sơn, cuốn chặt cậu trong biển tình cảm dữ dội của anh, không để Sơn kịp thở và thoát ra.
Thuận bắt cậu gọi tên anh, thế nhưng Sơn nhận ra mỗi lần cậu gọi tên anh, Thuận lại hưng phấn mà thúc tới mạnh hơn, cậu vừa oằn mình dưới từng đợt kích thích anh mang tới, lại vừa không nhìn được mà vừa khóc vừa kêu tên anh đứt quãng.
Khốn thật, xong việc xem cậu giết anh thế nào.
Sự thật chứng minh, sau khi xong việc, Thuận ôm lấy cậu vào lòng, hôn lên đôi má đỏ ửng của Sơn, để yên cho cậu nằm trong ngực mình mà thở, sau đó anh nhẹ nhàng nói:
“Anh yêu em, Sơn. Anh yêu em mất rồi.”
Khoảnh khắc đó Sơn quên hết mọi điều, cậu hôn lên yết hầu anh, cái hôn nhẹ như chuồn chuồn đạp nước, rồi đáp lại anh:
“Em cũng yêu anh. Em yêu anh nhiều hơn những gì em có thể tưởng tượng ra, thật đấy.”
Sơn yêu anh nhiều hơn những gì Thuận có thể tưởng tượng ra.
Cậu yêu anh đến nỗi đòi học nghề biển để có thể đi cùng anh, mặc cho Thuận can ngăn hết lần này đến lần khác, để đến cuối cùng, anh đành phải đồng ý để cậu thử ra khơi trong một đêm biển lặng.
Ngồi yên trong cái ôm của Thuận giữa lúc biển và trời hòa cùng một màu đen ngòm như họng của một con quái vật, Sơn không thể nghĩ được gì nữa.
“Anh biết em yêu anh mà, đúng không?”
Thuận gật đầu nhè nhè. Có lẽ đến giờ này, ai trên đảo cũng biết họ yêu nhau rồi.
Sơn khẽ giãy ra khỏi vòng ôm của Thuận, cậu nhìn thẳng vào mắt anh.
“Em chỉ còn anh thôi, Thuận. Nếu như ba năm trước không phải là anh dang tay ra đón em vào nhà, hẳn là đã không còn em ngày hôm nay.”
Thuận hoảng hốt nhìn Sơn:
“Em nói gì đó?”
Sơn nói tiếp:
“Vậy nên nếu một ngày không còn anh, cũng sẽ không còn em nữa.” Cậu nhìn Thuận, ánh nhìn kiên định đến nỗi không cho phép anh có một lối nào để từ chối, “Cho em được sát cánh bên cạnh anh đi, Thuận. Như những gia đình đi biển khác, có thể ở cạnh anh trong suốt chặng đường đó, xương rồng luộc chấm muối em cũng ăn được hết, em chỉ cần anh thôi.”
Thuận nhìn cậu, mũi anh cay xè, hốc mắt nóng rần lên. Anh kéo Sơn vào một cái ôm khác, một cái ôm ấm nóng hơn, giọng anh khẽ run:
“Lấy anh đi, Sơn. Trở thành gia đình của anh được không, em?”
Sơn ôm siết lấy anh, vùi mặt vào hõm cổ anh, tham lam hít ngửi lấy mùi hương đã quá quen với mình trong suốt ba năm qua.
“Em sẽ trở thành gia đình của anh, mãi mãi.”
“Mãi mãi.”
-
