Chapter Text
Kỳ 1: Vụ án đứa trẻ mất tích
Chương 1.1
Năm 1831, năm vua Minh Mạng thứ 12, xóa bỏ Bắc Thành, di dời kinh đô về Huế, Thăng Long khi ấy là một tỉnh phía bắc, lấy tên là Hà Nội. Quốc Tử Giám được đặt ở Thăng Long cũng theo sự di dời mà được đưa vào Huế. Nhiều đốc học, giáo học ở ngoài bắc được đưa vào trong kinh thành Huế để giảng dạy, theo đó, nhiều huấn học và thầy đồ cũng được luân chuyển ra ngoài bắc để dạy ở các trường của huyện, trường tư thục.
Nguyễn Thanh Phúc Nguyên là một huấn học từ Huế ra, cậu được sắp xếp dạy cho các bé ở trường học của phủ Hoài Đức. Trường học phủ Hoài Đức nằm tại thôn Tiên Lị, huyện Thọ Xương, là một trung tâm giáo dục chính quy của Thăng Long- tỉnh Hà Nội bấy giờ. Xuất thân là một nhạc sinh có gia đình nhiều đời làm nhạc sư phục vụ trong cung đình, nhưng năm 15 tuổi, cha cậu khuyên cậu nên theo con đường đèn sách. Ông nói rằng làm nhạc sư trong kinh thành vốn dĩ chẳng sung sướng gì, tai bay vạ gió, chẳng may họa gì rơi đầu lúc nào chả ai hay. Cậu nghe cha. Cậu vốn sẵn thông minh, tính tình lại chăm chỉ, năm 18 tuổi, không phụ công cha mẹ, cậu đỗ Tú Tài, nhiều năm theo phụ các đốc học trong trường ở kinh thành Huế, cậu nhanh chóng trải qua được kỳ khảo hạch và phẩm hạnh để làm huấn học. Tính đến nay, cậu đã ra ngoài này được hơn 3 tháng. Khi cậu đến, Thăng Long đã ở độ ẩm ương như thiếu nữ 16, ngày mưa ngày nắng nhưng xung quanh lúc nào cũng mang theo hơi sương ẩm ướt. Người dân ngoài này họ gọi là mùa nồm, mùa đáng ghét. Ấy vậy mà thoắt cái đã sang tháng 5, tiếng ve kêu dưới những tán cây càng ngày càng râm ran, thời tiết dần trở nên nóng bức hơn. Nguyên không sợ mùa nóng này, nhưng cậu nghe kể cuối năm vào đông thời tiết sẽ trở nên lạnh giá hơn, mà cậu sống ở đàng trong hơn 20 năm, chưa từng trải nghiệm cái lạnh giá mà đàng ngoài kể bao giờ.
- Nguyên đã quen sống ngoài này chưa?
Thầy Long, một huấn học khác trong trường, lớn hơn Nguyên 2 tuổi. Thầy học từ bé ở ngôi trường này, sau này làm anh lớn phụ các thầy khác quản các em nhỏ, sau đi thi đỗ đạt xin về dạy trẻ ở trường.
Chiều sớm hạ tháng 5, cả 2 thầy hôm nay được nghỉ, thầy Long dẫn Nguyên đi dạo quanh chợ huyện. Cái huyện Thọ Xương này thế mà to, Nguyên ở hơn 3 tháng mà mới chỉ loanh quanh ở trường, ở chợ và ở nhà. (Huyện Thọ Xương gồm Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, 1 phần Ba Đình, Đống Đa bây giờ). Nguyên và Long ngồi ở tầng 2 của quán trà, chỗ ngồi của họ ngay gần cửa sổ hướng xuống con đường nhộn nhịp. Thầy Long để ý thấy gương mặt đầy đăm chiêu của Nguyên liền hỏi chuyện:
- Nguyên lại sao thế, sáng giờ cứ thấy mặt mũi nhăn nhó
- Anh Long ơi, có chuyện này…không biết có phải do em suy nghĩ nhiều không?
- Sao đấy, Nguyên còn lạ nước lạ cái, ngoài này có chuyện gì Nguyên cứ nói với anh, anh sẽ giúp Nguyên.
- Dạo này thầy có thấy em Minh đi học không, em Minh nghỉ cũng 4 buổi, em Lan nghỉ cũng 3 buổi, Nguyên lo quá
- Nguyên có báo cho giáo thụ Trương chưa?
- Nguyên báo rồi nhưng thầy ấy chẳng bảo sao cả
Hai người đang nói chuyện bỗng dưới đường, tiếng ồn ào nhốn nháo vang lên, nào là tiếng hô đứng lại, tiếng vó ngứa rầm rầm đạp trên đường đá, tiếng hô hào bắt trộm của ai đó. Nhìn qua cửa sổ tầng 2, chỗ xa xa gần chợ có đám người tụ tập vây quanh ngó nghiêng hóng hớt chuyện gì đó, lát sau người dân hiếu kỳ cũng vãn dần, giọng người trai trẻ vang lên nhờ tránh đường. Đi ra từ toán người, bóng dáng một chàng trai chạc tuổi Nguyên, mặc một chiếc ngũ thân tay chẽn màu đen, bên cạnh là một thanh niên cũng chạc tuổi nhưng cao hơn người kia khoảng một cái đầu.
- Hai người kia là ai vậy anh, người cao cao kia diện mục như ngọc, người bên cạnh khôi ngô tuấn tú. Hình như họ là người nhà quan huyện nên đi bắt cướp kìa anh.
- À, người thấp hơn là cậu út họ Đặng bên phủ Thường Tín, tên Đặng Đức Duy, bằng tuổi em. Người cao hơn cũng là cậu út nhà phú ông họ Lê, Lê Duy Lân, bằng tuổi anh, trước đây học chung với anh. Đều là người của quan tri phủ Vũ Tự Long, nghe nói họ đang cố gắng lập công để được đề lên làm cho Đại Lý Tự. Đội này còn một người nữa cũng bằng tuổi Nguyên, tuổi trẻ nhưng học 1 biết 10, đọc đâu nhớ đó, gia đình có nghề y nhiều đời nên bây giờ đang làm ngỗ tác cho phủ.
- Hay mình xuống, nói chuyện với họ về mấy đứa trẻ đi.
Nói rồi, Nguyên kéo tay Long chạy xuống dưới lầu, trả tiền xong thì chậm mất một khúc, người ta đã áp giải phạm nhân về tới nha phủ. Hai người chạy theo tới của phủ liền bị những lính lệ canh cửa chặn lại, ý không cho tiến sâu vào trong phủ. Nguyên dần dần trở nên mất bình tĩnh, cậu biết việc đứa trẻ nghỉ học 3,4 hôm chưa phải điều gì đáng lo nhưng Nguyên vẫn có dự cảm không lành, đặc biệt là hôm qua, cậu đã qua nhà Minh để tìm gặp gia đình em nhưng không có ai ở Nhà. Vì quá gấp gáp, thuận miệng cậu nói giọng địa phương nơi mình từng ở hơn 20 năm, khiến cho đội lính lệ dù có muốn nghe cũng không thể nghe được.
- Có chuyện gì mà ẫm ì ngoài này thế?
Đi từ trong sân ra là cậu chàng thấp hơn, hình như tên là Đức Duy. Bây giờ nhìn chính diện như này, Nguyên mới nhận ra, người kia hình như thấp hơn Nguyên nửa cái đầu. Người kia tiến lại gần hơn, cách Nguyên một cánh tay, gương mặt cọc cằn tỏ rõ sự mệt mỏi sau trận rượt bắt cướp khi nãy.
- Người đàng trong ra đây hả, có chuyện gì từ từ nói
- Nguyên…Nguyên có chuyện cần thưa, mấy đứa trẻ ở trường đã nghỉ học 3,4 hôm nay rồi, Nguyên lo có chuyện chẳng lành.
Duy quay sang hai tên lính lệ còn đứng lại trước cửa phủ gật đầu, rồi cậu day day bên thái dương, giọng nói giảm bớt sự khó khăn như vừa nãy, xong liền đưa tay mời 2 người vào trong phủ để nói chuyện. Tiến vào giữa sân phủ, cả hai thầy gặp Duy Lân, người cao ráo khi nãy.
- Quan tri phủ đang xử án trộm khi nãy, có gì hai người báo với chúng tôi, trước hết hãy xưng danh tên tuổi, à người kia thì không cần – Duy chỉ vào thầy Long xong quay sang nói với Nguyên – còn đằng ấy?
- Phúc Nguyên, Nguyễn Thanh Phúc Nguyên, tuổi mụ năm nay cũng đã 24, là huấn học ở trường phủ Hoài Đức.
- Có chuyện gì mà hai thầy vội vàng tới đây báo án vậy?
- Không, không phải án, nhưng…Hai đứa trẻ lớp Nguyên đang dạy đã không đi học mấy hôm nay rồi. Người đầu tiên mất tích là bé Nguyễn Văn Minh, nhà ở cuối thôn Hà Khẩu, bé nghỉ học nhưng không thấy gia đình đến thông báo. Hôm sau bé vẫn không đi học, cũng hôm đó, còn có bé Đinh Thị Lan cũng nghỉ không lí do và không có người nhà đến báo. Đến hôm thứ 3 vẫn không thấy cả 2 bé đi học nên buổi chiều Nguyên đã qua nhà bé Minh để tìm gặp gia đình nhưng không có ai ở nhà. Cơ mà trên đường Nguyên đi về có gặp bé Minh đi cùng một người đàn ông.
- Một người đàn ông sao? Sao thầy nói gia đình không ai ở nhà? – Duy Lân, người im lặng nãy giờ lên tiếng
- Đúng, rõ ràng Nguyên thấy cổng cài then ngoài mà.
- Người đàn ông đi cùng đó, có thấy mặt không? Hơn nữa, thầy có chắc đấy là bé Minh không? - Duy hỏi
- Không thấy, người đàn ông đó không giống với ba của Minh mà Nguyên từng gặp, với cả, người đó đứng chỗ khuất còn đội cái nón mê che mất nửa khuôn mặt. Còn Nguyên chắc chắn đó là bé Minh, vì Minh còn vẫy tay chào Nguyên mà. Nguyên không nhầm được đâu. Hôm sau Nguyên cũng có qua tìm bé Lan cũng không có ai ở nhà.
Duy Lân và Đức Duy trong lúc còn đang phân vân có nên báo vụ việc lên với quan tri phủ hay không vì việc hai đứa trẻ còn chưa rõ là mất tích hay đã được gia đình đưa đi đâu thì quan Vũ Tự Long đi từ trong phủ đường ra hỏi chuyện. Quan phủ ngồi trầm ngâm một lát rồi liền đứng dậy, ngài bực bội qua sang phía Lân và Duy quát:
- Chuyện trẻ em nghỉ học thiếu con chữ vốn đã là chuyện lớn, đằng này còn nghỉ không lí do, gia đình cũng không rõ ở đâu thì lại còn là chuyện lớn hơn rất nhiều. Thế mà hai đứa còn ở đây phân vân có nên báo án hay không sao? Phàm là chuyện liên quan tới trẻ em, đều phải xử lý cho thỏa đáng. Nghe ta nói đây, bây giờ ngay lập tức cùng hai thầy đến nhà của hai đứa trẻ để điều tra, phải tìm ra được bọn trẻ càng sớm càng tốt. Giờ thì mau đi đi.
Quãng đường từ phủ tới nhà của bé Minh khoảng 2,3 dặm (1dặm ta = 445m), đi bộ cũng mất khoảng 1 khắc (30p) vừa đủ để bốn người vừa đi vừa trò chuyện. Đi phía ngoài là Duy Lân, con trai út nhà Lê phú ông là chàng trai mà bao thiếu nữ thầm thương trộm nhớ. Chàng là một nam tử cao ráo mà ở huyện khó kiếm ra được người thứ 2 cao như thế, dáng dấp thanh thoát dù rằng học võ từ khi còn nhỏ. Mấy cô thiếu nữ hay nói, chàng này dáng người dong dỏng, vai rộng lưng thẳng, gương mặt khôi ngô tuấn tú lại tài giỏi chăm chỉ, rất phù hợp với tiêu chí kiếm phu quân của các nàng. Bên cạnh Duy Lân là huấn học – bạn học cũ Hoàng Long. Thầy Long thấp hơn người bên cạnh độ hơn nửa cái đầu, có lẽ xuất thân từ gia đình quyền quý gia giáo nên dáng đi của thầy tựa cành tùng giữa gió – vững vàng, tự tin. Gương mặt thon dài, nét nào ra nét ấy giống như tranh vẽ, lông mày cong nhẹ nhưng nguyệt non, sống mũi cao thẳng, đôi mắt lúc nào cũng long lanh to tròn, tất cả đều làm nổi bật lên vẻ điềm đạm mà hơi u buồn của thầy. Chẳng thế, thầy còn có một làn da trắng mịn như sương sớm mà bao cô đang tựa tuổi đôi mươi phải ghen tị. Thầy Nguyên đi giữa thầy Long và Đức Duy, so với thầy Long, thầy Nguyên cao hơn một chút, gương mặt cũng vài phần non trẻ hơn. Phúc Nguyên theo mấy cô trong trường tả là người có vầng trán rộng cao sáng tựa như trăng rằm, thông minh hơn người; hàng lông mày đen cong nhẹ như nét bút thủy mặc, dưới đó là đôi mắt sâu thẳm không quá sắc bén nhưng vẫn ẩn chứa khí phách mạnh mẽ. Thoạt nhìn thầy Nguyên, tưởng tĩnh lặng như tranh song bề ngoài yên ả mà lại sâu không mò thấy đáy. Đi phía trong cùng là Đức Duy, đứa em thanh mai trúc mã và học võ cùng Duy Lân từ thủa bé, sau này cùng nhau vào làm cho quan tri phủ. Đức Duy vóc dáng không cao như người anh kia xong thân hình cân đối rắn rỏi, gương mặt với nhiều đường nét sắc sảo đặc biệt là đôi mắt, dù đứng vào đâu cũng có nét riêng khó lẫn. So với dáng đi thanh thoát của Duy Lân, cậu có vẻ trẻ con hơn, bước chân nhanh nhẹn hoạt bát rảo trên đường, có lẽ một phần vì hay phải cố theo kịp bước chân của người anh cao hơn kia. Nghe nói mấy cô con gái bên phủ Thường Tín hay nhờ bà mối qua làm mai với nhà cậu, họ bảo cậu có đôi mắt sắc như lưỡi gươm, sáng và sâu thăm thẳm. Nhưng để mà mấy cô động lòng nhất chắc chắn là nụ cười của cậu. Khi cậu cười, những chiếc răng nanh nhỏ xinh lộ ra, đồng điếu chẳng cần nhìn kĩ cũng thấy rất rõ.
Chẳng mấy chốc mà cả bốn người theo chân thầy Nguyên đã tới nhà Minh. Đúng như lời thầy Nguyên kể, căn nhà đã được chốt then cài khóa ngoài. Duy Lân tiến đến xem xét kĩ cánh cửa rồi đi sang nhà hàng xóm để hỏi thăm. Người dân ở đó kể rằng, mấy hôm nay đã không thấy gia đình họ xuất hiện, cũng không rõ họ rời đi từ lúc nào, chỉ biết là hôm trước còn thấy họ đón đứa con trai về sáng hôm sau cửa đã khóa.
- Gia đình đấy á, ít khi giao tiếp với hàng xóm lắm, gớm cái hồi vài năm trước họ đến đây, đến sang chào hỏi bà con họ còn chẳng làm cơ, sau này thi thoảng chúng tôi có hỏi thăm nhưng họ chỉ đáp qua loa rồi quay đi, họ còn không cho con trai họ nói chuyện với chúng tôi. Nên các vị đại quan có hỏi chúng tôi về họ thì chúng tôi cũng chả biết gì cả đâu.
- Nếu nhà bé Minh không có ai thì chúng ta qua nhà bé Lan xem tình hình như thế nào.
Nhà Lan cách nhà Minh chỉ khoảng 2 dặm, so với nhà bé Minh, nhà của Lan bé và nghèo hơn. Nghe nói trước đây gia đình này cũng có của ăn của để nhưng vài năm sau do cờ bạc nên đi xuống. May mắn thay, khi bốn người đến thì cổng nhà đang mở, thầy Nguyên vội vàng tiến đến cổng gọi to tên bé Lan. Một lúc sau, một người đàn ông trung tuổi hớt hải chạy ra, người đàn ông này tóc tai bù xù, trên mặt lấm tấm mồ hôi lộ rõ vẻ bất an lạ thường. Theo sau người đàn ông là một người phụ nữ áo quần xộc xệch bước ra, trên mặt bà ta cũng đầy sự bối rối lo lắng khó hiểu. Thầy Nguyên xưng tên trước, cả người cứ nhấp nhỏm muốn chạy vào tìm bé Lan nhưng hai người kia xưng là bố mẹ của Lan nhất định không cho thầy bước vào.
- Con bé nó ở nhà nghỉ ốm mấy nay, thầy đừng vào kẻo lây ốm thì khổ.
- Bé nó ốm sao anh không báo với chúng tôi, bây giờ tôi muốn vào thăm bé, tôi muốn tận mắt nhìn thấy bé Lan mới yên tâm.
Phúc Nguyên một hai đòi đi vào thăm nhưng gia đình kia nhất định không cho, cuối cùng họ đuổi 2 thầy về trong sự bức bối và khó hiểu của Nguyên. Rõ ràng hai người này có vấn đề, họ nói chuyện hấp tấp như muốn hai thấy về càng nhanh càng tốt, mắt người đàn bà thi thoảng lại đảo vào phía trong nhà còn người đàn ông cứ lúc lại lau trán một lần. Nguyên và Long đối mặt với cánh cổng vừa bị đóng sập, quay sang nhìn nhau đầy vẻ khó hiểu, bỗng Nguyên nhận ra hai người kia đã biến mất từ lúc nào. Đang định toan đi kiếm thì thấy Duy từ đâu đi về, ra là lúc hai vợ chồng kia chạy ra thì cậu đi kiếm mấy người bán hàng rong gần đó để hỏi chuyện.
- Nãy bà dì bên kia kể 2,3 hôm nay đã không thấy bé Lan ra khỏi nhà rồi. Bình thường nó là đứa rất ngoan, hôm nào đi học cũng chào hỏi bà dì bán hàng đó. Bà ấy còn nói cái hôm kìa, sáng có thấy bé đi học nhưng chiều không thấy về, sau đó mấy hôm cũng không thấy đâu. Bà bán nước ở đây, muốn tới nhà bé Lan thì sẽ phải đi qua quán của bà.
- Vậy là bé Lan không về nhà, sao hai người kia nói bé ốm nghỉ ở nhà, rốt cuộc là ốm thật hay có chuyện gì mà nhất định không cho chúng ta vào? – thầy Long vẻ mặt đầy thắc mắc.
- Em còn hỏi hàng xóm gần đây, họ kể ngày trước nhà này làm ăn được lắm, 2 năm gần đây ông chồng ham mê cờ bạc kéo theo cả bà vợ nên làm được bao nhiêu thì nướng vào cờ bạc hết bấy nhiêu, họ còn bán hết tài sản trong nhà chỉ để cờ bạc, giờ là nhà nghèo nhất làng này, nhưng không hiểu sao vẫn cho bé Lan đi học ở phủ được.
- Anh Long, nãy anh có thấy trang phục trên người bà vợ có gì lạ không? – bỗng Nguyên quay sang hỏi thầy Long, gương mặt hiện rõ vẻ nghiêm trọng
- Ừ, rõ ràng là là bán hết tài sản quý giá đi, nghèo đến như vậy, tại sao bà ta lại đeo cái vòng ngọc đó. Với một người gia cảnh nghèo khó lại còn cờ bạc như thế, bà ta không thể mua được chiếc vòng ngọc mà lẽ ra chỉ có mấy tiểu thư quan lại mới có.
Duy Lân bỗng từ đâu trên mái cổng nhảy xuống, đáp ngay bên cạnh thầy Long, như đang suy nghĩ gì đó, một lúc sau cậu mới lên tiếng:
- Nhà này có vấn đề, hai người kia sau khi đóng cổng liền chạy một mạch vào nhà, hơn nữa trước khi đóng cửa nhà còn ngó nghiêng xung quanh rất kĩ giống như sợ có ai đó theo dõi vậy. Duy, đêm nay chúng ta quay lại đây để theo dõi, còn không thì đành đi lối tắt vào trong để điều tra vậy.
Nói rồi cả bốn người quyết định trở về phủ của quan, Lân và Duy ra sức khuyên can hai thầy không nên đi cùng vì sợ lỡ có chuyện gì biết ăn nói sao với trường học. Nhưng nói tốn nước bọt cũng chẳng cản được tâm trạng lo lắng của hai người thầy đang có môn sinh không rõ đang ở đâu đang như thế nào. Phúc Nguyên là người gay gắt nhất, cậu đòi phải được đi theo cho bằng được với lí do mà hai người kia không thể chối được
- Nguyên và anh Long là thầy của tụi nhỏ, đến bước này rồi, hai quan nghĩ chúng tôi có thể ngồi ở nhà chờ tin sao, biết chờ đến bao giờ đây.
Thế là tối hôm đó, bốn người đều thay sang bộ đồ màu tối và gọn gàng hơn, lần này họ chọn di chuyển bằng ngựa cho nhanh, tới gần nhà Lan, họ xuống và đi bộ vào để tránh phát hiện. Nhưng lần này họ thấy cổng ngoài đã cài then, không thế còn kẹp một tờ giấy ghi dòng chữ “chúng tôi đi trốn nợ rồi, đừng tìm chúng tôi”. Có điều gì đó khuất tất, chẳng ai trốn nợ mà phải thông báo là đi trốn nợ cả. Hoàng Long đi sát lại cổng, thầy ấy cứ khịt khịt mũi và hít hít cái gì đó. Một lúc sau, thầy Long quay sang không chắc lắm nói rằng thầy ngửi được một mùi gì đó, một mùi gai gai, tanh nồng. Duy thấy vậy, cậu liền trèo lên tường cổng, trước mặt cậu là một cảnh tượng kinh hoàng, thi thể người đàn ông nằm giữa đống máu đỏ chảy thành vũng, ngay nên cạnh đó là thi thể của người phụ nữ với gương mặt bị cào nát. Hình như họ vừa mới bị giết, một cách thê thảm
- Anh Lân…quay về báo quan và gọi Lâm Anh đi, có án mạng rồi, họ đều đã chết, bị giết.
