Actions

Work Header

[𝖒𝖔𝖗𝖙𝖊𝖒 𝖎𝖓𝖓𝖔𝖈𝖊𝖓𝖙𝖎𝖆𝖊][Vietnamese]

Summary:

Tôi đã chuẩn bị sẵn tâm lý để chết một lần cuối cùng.

Notes:

Bức tường chẳng bảo vệ chúng tôi khỏi cái gì hết. Nó chỉ ngăn cách chúng tôi với một thế giới khác.

Chapter 1: Trên đầu tường có một đóa hoa.

Chapter Text

Tháng sáu đã qua từ lâu rồi mà nó vẫn hằn lại trong lòng tôi một cái gì từa tựa như nỗi luyến lưu cho thời khắc tàn úa của một mùa hạ vàng ruộm khắc khoải. Không phải là mùa hạ ở đâu cũng giống nhau. Mùa hạ trượt nghiêng trên con dốc thời gian, có lúc, nó đọng lại trong veo như kỉ niệm về mối tình đầu có đôi mắt đen láy, có lúc, nó là những cơn đau rấm rứt như những giọt nước mắt khóc thầm cồn cào cả ruột gan và cố nhiên khi khác nó có thể là ngọn lửa cháy hừng hực như lòng thù ghét hay nỗi khổ đau nữa.

Mùa hạ không phải là nàng thơ của tôi đâu. Mùa hạ chỉ là một người bạn kì quặc thôi. Nó không phải là đứa bạn thích nhất, ngưỡng mộ nhất, cũng không phải ghét nhất, chỉ là không hẳn quan tâm nhưng không khi nào mà nó lại vắng mặt trong đời bạn.

Mùa hạ trong tôi từng là những bức tường sơn trắng đã cũ.

Bạn sẽ không thể tưởng tượng nổi đâu ra bức tường sơn trắng mà lại xấu xí đến thế đâu - màu sơn trắng theo tháng năm đã bị rêu mốc làm vẩn đục nét đẹp tinh khôi và trang nghiêm. Trên nền trắng cứ lấm tấm loang lổ những vết màu xanh nhớp nháp, có chỗ thì đã khô vàng và bốc mùi ngai ngái. Đôi khi tôi còn nghĩ rằng thứ mùi khó chịu ấy ắt hẳn có độc, và rồi tôi,cùng những đứa trẻ quanh tôi, sẽ chết ngạt trong này mất.Những rễ cây sần sùi của một cái cây đê tiện nào đấy đã đâm hỏng bức tường rồi, làm lồ lộ ra một chút cảnh quan bên ngoài trong những khe hở nho nhỏ.

“Lũ trẻ con đừng có táy máy gì đấy nhé! Đứa nào mó máy ở bờ tường sẽ không được ăn cơm!”

Những người có cơ thể lớn hơn trong bức tường thường nói với chúng tôi rằng bức tường đang bảo vệ chúng tôi, và sẽ ngăn không cho lũ trẻ chạy lung tung, chạm vào bức tường hay đi ra ngoài mà không có họ đi theo. Những đứa nào trái lời sẽ bị phạt ngay. Chúng phải bị phạt vạ vì một cái gì bảo vệ chúng. Ồ lạ thật! Hãy tìm ra giá trị triết lý ở đây đi, vì tôi cũng không rõ mình có thể suy nghĩ thông suốt hay không, nhưng tôi cho rằng những kẻ ngoài cuộc, những kẻ dành suốt đời quan sát cuộc đời người khác như các vị sẽ thấu tỏ tường tận hơn tôi lắm.

Những đứa trẻ khác sẽ tin lời ngay và chỉ biết gật gù cái đầu tròn vo của chúng mà thôi. Riêng tôi, tôi không tin đâu. Tự tôi biết rằng mình là một đứa trẻ thông minh mà, tôi khác biệt, chắc chắn là thế. Khi lũ nhóc khác còn nô đùa ầm ĩ thì tôi đã biết đọc sách thầm và làm làm tính nhẩm rồi. Đôi mắt tôi sẽ không bao giờ rời khỏi bức tường ấy. Tôi tinh vi lắm đấy nhé.

Dần dần tôi nhận ra bức tường ấy không có gì xấu. Bọn người cao lớn kia chỉ biết nói dối là giỏi. Sao chúng có thể lừa dối đôi mắt dầu non nớt mà lại tinh tường này? Bức tường chẳng bảo vệ chúng tôi khỏi cái gì hết. Nó chỉ ngăn cách chúng tôi với một thế giới khác. Này, hãy để tôi nói cho các vị nghe về sự khác biệt giữa chúng, mà tôi đã tinh mắt nhận ra nhé.

Thế giới ở bên trong những bức tường là một nơi yên bình đến kì lạ. Ý tôi là, nó yên lặng và bình thường đến mức khó chịu. Lúc nào cũng là một bầu không khí nghiêm nghị lãnh đạm. Không khí có một thứ mùi trong sáng mà chúng tôi vui lòng hít vào cho đến khi họng bị bóp nghẹt. Không gian tinh khôi ấy thường làm cho tôi muốn ngửa đầu lên than thở rằng đến khi nào chúng tôi sẽ chết vì buồn tẻ. Chúng tôi sẽ thức dậy, thở chung một nhịp với thánh thần, để rồi chết đi vào cuối ngày khi đôi tay Cao Xanh chợt buông lơi. Tôi lúc nào cũng được phủ lên mình những tấc vải trắng, mịn đẹp, thuần khiết nhất, thơ ngây nhất.Thế giới ấy lớn lên cùng với tôi, nhưng dù tôi càng ngày càng lớn lên, những bức tường vẫn trơ trơ ngang bướng như thế. Trong khi tôi càng ngày trông càng ra mẽ con người thì, những bức tường ngày một xấu đi.

Tựa như, chúng càng lúc càng nhuốm bẩn, hoặc có thể là do tôi ngứa mắt với chúng, tôi muốn chúng bị phá bỏ ngay càng sớm càng tốt. Ấy trước mắt tôi bức tường là một thứ bẩn thỉu khả ố, còn trong đôi mắt của những em thơ, bức tường tồn tại không một tỳ vết.

Này đây mới là thú vui ở nhân gian: thế giới bên ngoài bức tường tràn đầy những sắc màu mới lạ. Tôi nhớ đã có một tôi thuở nhỏ dại, thường xuyên len lén lại gần bức tường và nhòm ngó ra bên ngoài. Chao ôi! Tôi đã thấy những thứ kì quái hơn bao giờ hết! Đó là một thế giới thơm nức hương vị của những cuộc thám hiểm, đồ ăn ngon và lạ lẫm được bày ở ngoài đường mà nếu muốn ăn thì phải đổi bằng mấy tờ giấy, những thứ đồ đẹp đẽ lủng lẳng làm cho người nhìn thèm thuồng, động vật đi lại ngông nghênh ngoài đường, và bên ngoài là cả một khoảng trời xanh rợp vô tận chứ không phải vuông con con như cái hộp diêm trên đầu tôi. Thật là kỳ ảo!

“Đứa trẻ này, tôi muốn nó.”

“Vâng thưa đức ông, chúng tôi sẽ chuẩn bị ngay thủ tục cho con về nhà mới ạ.”

Những mùa hạ hoang tàn đó cháy vụn như giấy bén lửa khi một trong những sinh vật to lớn trong bức tường đưa tôi ra khỏi đấy vào một ngày không sớm chẳng muộn giữa tháng năm. Bức tường không chỉ có mỗi bức tường và cái cây đê tiện đã đâm thủng thân mình nó, nó còn có một cánh cổng dẫn ra ngoài trông đẹp lắm mà tôi không bao giờ biết đến. Cánh cổng bằng gỗ mun đen bóng, không biết là do được bảo dưỡng tốt hay là do đã có những đôi bàn tay xoa lên ấy đến cả trăm, cả ngàn lần. Bước ra khỏi cánh cổng đó, tôi đã hoàn toàn trở thành một cái gì đó của thế giới bên ngoài rồi. Tôi sẽ phải chuyển đến nơi khác, tôi sẽ có một gia đình mới. Tôi được rời khỏi cô nhi viện.

Mùa hạ trong tôi cũng từng là kí ức về một gia đình mới.

Mi sẽ không biết mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào cho đến khi được mục kích tận mắt đâu. Tôi không chỉ được ra khỏi những bức tường, tôi còn được chạm vào thế giới bên ngoài nữa kia. Hóa ra, mọi thứ không thay đổi gì mấy, tôi chỉ là đi từ trong một bức tường này vào trong một bức tường khác mà thôi. Không gian quanh tôi vẫn chia ra làm hai thế giới, nhưng có lẽ, thế giới bên ngoài bức tường khi này đã tiến sát tôi hơn nhiều chút.

Gia đình mới của tôi là một gia đình trung lưu nhưng khá có danh vọng. Hai ông bà chủ nhà, tức là cha mẹ nuôi của tôi, đều là những người cuồng tín, những người cuồng tín đến thế lại sinh dưỡng ra được hai đứa con cũng cuồng tín như họ.

Tôi không muốn tiết lộ tên tuổi của cha mẹ nuôi tôi, nhưng về các anh chị em nuôi thì tôi nghĩ là ổn. Anh cả trong nhà của tôi là Credo, anh hơn tôi nhiều tuổi lắm. Anh là người phụng sự trung thành nhất của Thánh thần, có thể nói là người tận tụy nhất mà tôi từng thấy, thế nên anh mới là người con đáng tự hào của cha mẹ anh và là người đem lại danh vọng cho gia đình nhỏ của anh.

Em gái anh, người chị em nuôi của tôi, người tầm tuổi tôi là Kyrie. Kyrie như thể một cơn mưa rào mùa hạ dịu dàng thuần khiết. Tôi cũng không hiểu vì sao hai thân của cô có thể nuôi cô lớn thành người trong sáng đến thế. Đấy là trong cảm giác của tôi thôi – cảm giác của một đứa trẻ tinh vi, một cái gì đó mà ta đã mang theo từ thuở trứng nước. Dù tôi chưa từng thấy được mặt xấu xa của hai thế giới tôi đã quan sát, tôi vẫn cảm tưởng trong không khí vốn dĩ vẫn có một thứ gì khả ố tựa như tội ác đang bay lung tung,thế mà Kyrie tồn tại như một vật thể kị với chúng nó .Thôi, tôi không dám giải thích quá rõ về những cái đó đâu, tôi không phải triết gia.

Sau đấy, mỗi một ngày thức dậy, tôi sẽ là con của cha mẹ nuôi tôi, là anh chị em của anh chị em nuôi tôi, và sau đó mới là tôi.

Tôi muốn được thức dậy trong mùi hương dịu ngọt của bánh nướng mẹ tôi làm sáng sớm. Tôi cũng thích những lúc nhàm chán, tôi sẽ đi vòng quanh nhà và quan sát mọi người chìm đắm trong hoạt động của riêng họ. Trà nóng ở trong bình thủy tinh vàng như hổ phách, chỉ nhìn thôi đã thấy bỏng mắt rồi. Kim đồng hồ kêu tích tắc chậm chạp.Hai thân tôi rất thích nhìn ngắm tôi, họ sẽ thường cảm thán là trông tôi thật là xinh đẹp, thật là một món quà thần linh gửi tặng và Kyrie cũng yêu thích tôi nữa. Họ coi tôi như một món đồ quý được trưng bày và đôi khi, tôi bắt gặp họ trông tôi bằng đôi mắt mơ màng xa xăm. Chỉ là họ sẽ không ôm tôi đâu, mà tôi cũng không cần, tôi đã lớn rồi mà, tôi sẽ ổn thôi.

Tôi không thỏa mãn. Tôi không muốn cuộc đời tôi đóng lại sau những bức tường, cho dù tôi có được bọc trong một cái lồng vàng son. Mùa hạ trong tôi không nên là những bức tường cao thâm khó vượt qua, không nên là gia đình và những thứ mật ngọt của tuổi trẻ thơ dại, mùa hạ ấy có thể là nhòm ngó và vạch trần bộ mặt xấu xí của thế giới nữa.

Thế giới của tôi vẫn là một tấm vải trắng từ thuở sơ khai của đất trời, còn tôi, tôi là người nóng lòng muốn được cọ vẽ lên đó. Khi tôi vươn được gần hơn vào thế giới ngoài kia, có lúc tôi tưởng như không phải thiên thần mà chính ác quỷ mới là kẻ thân tặng cho tôi chiếc cọ vẽ. Tôi không biết mình có đi đúng hướng hay không. Tôi sợ lắm. Nhưng tôi sẽ không dừng bước.

Mọi chuyện có lẽ bắt đầu từ đám nhóc ở con phố phía Tây. Thành phố mà tôi ở là một nơi tràn ngập không khí tôn giáo, ở đâu cũng có những người cuồng tín. Sẽ bất ngờ lắm nếu tôi tiết lộ rằng họ đang thờ phụng một con quỷ - Sparda. Một chiến binh xuất thân từ giống dòng Hỏa ngục. Thế mà ai cũng tin rằng ông ta sẽ mang lại hạnh phúc và thịnh vượng cho họ. Cố nhiên tôi không dám nói cho ai biết suy nghĩ của mình. Phản nghịch là một tội, và hình phạt dành cho một kẻ phản đạo không chỉ đơn giản là mấy lằn roi rướm máu đâu.

Thuở nhỏ dại ai mà chẳng có những đám tụ tập quanh khu nhà mình. Tôi cũng thế, mặc dù bọn chúng không hẳn thích tôi. Hơn nữa, có thể bọn chúng sợ tôi không biết chừng. Nghĩ đến chuyện đó khiến một đứa nhóc đang dậy thì như tôi vừa hơi buồn bã, vừa thấy dương dương tự đắc một cách khó hiểu. Trong đám ấy, có một thằng nhóc mau mồm mau miệng và gan to một cách đáng giận, hãy tạm gọi nó là thằng N* đi. N* trạc tuổi tôi. Nhưng thật lòng là nó hơn tôi nhiều lắm, thằng cu ấy sống trong gia đình giàu có, bố mẹ nó cưng chiều nó hết mực, chà chà, và bọn con trai cũng thích chơi với nó nữa chứ. Lúc nào nó cũng rong ruổi ngoài đường với hội bạn bè, khoái chí hết sức. Còn tôi, tôi phải học tập nhiều thứ lắm, những món việc nhì nhằng của bọn con nít có cha mẹ nghiêm khắc – cưỡi ngựa, đọc sách, đến nhà giáo học, học cách khiêu vũ.

Thằng N* tỏ vẻ thân thiện đầy bất ngờ với tôi, mặc dù đám bạn thân của nó bài xích tôi cực, chúng chỉ chực chờ thằng N* đi vắng là giở trò bắt nạt tôi. Chúng có thể cấu véo, thụi vào những chỗ kín chẳng hạn, để những vết thương của tôi không lộ ra ngoài, và căn bản những người xung quanh tôi không đủ quan tâm tôi để thực sự kiểm tra ra những vết thương ấy. Mặc kệ tất cả, tôi vẫn chơi với thằng N*. Tôi cảm thấy nó quý giá. Nó tôn trọng tôi, nó yêu quý tôi, dù cho giữa chúng tôi có thật nhiều khác biệt. Tôi vẫn nhớ như in những ngày nắng chói chang chiếu những qua tán cây, hắt xuống mặt đất những cái bóng âm u lạnh rượi, hay những trận tuyết đổ kín mặt đường và làm chết bao nhiêu vật nuôi của một số nhà, hình như... hình như thằng N* đã ở bên tôi qua hầu hết những chuyện ấy thì phải, làm một người bạn tri âm tri kỷ và hai thằng con trai chúng tôi đã chia sẻ đủ thứ chuyện trên đời.

“Mày có tin vào Sparda hay không?”

“Ồ” Thằng N đáp lại kèm theo tiếng xì kéo dài qua kẽ răng của nó “không bao giờ”.

“Người dân ở đây thờ phụng ông ta như một lũ rồ dại. Tao không bao giờ tin vào thần linh, mẹ kiếp.” Nó rít lên, kết thúc cái quan điểm của mình bằng một tiếng chửi thề the thé do chưa vỡ giọng hết.

“Tao cũng chẳng tin. Sparda gì chứ?” Tôi gật gù. “Thần linh chỉ gọi là thần linh khi có người khom lưng thờ phụng hắn thôi. Không có những tên sùng đạo lố bịch, Sparda cũng chỉ là một con quỷ trong sách vở thôi.”

“Thần linh chỉ là trò đùa của lũ mục sư, mày biết đấy.” Thằng N* trợn mắt “bọn sâu mọt nhận được lợi ích từ tôn giáo ấy. Tao đã nghe về câu chuyện của gã đàn ông J gì đó của một tôn giáo khác, một gã ra đời vô nhiễm, lương thiện đến độ phi lý hoặc là độc ác. Nhưng thấy chưa, người ta ngoan ngoãn phục tùng ông ta, gọi mình là lũ chiên mà ông ta là người chăn chiên.”

Đối mặt với vẻ bi quan của nó, tôi đành cười trừ.

Chợt một hôm, thầy giáo ở nhà giáo học gọi tôi ra giữa lớp. Tôi không thích ông giáo già ấy, mái tóc hoa râm và cặp kính dày sụ làm ông ta trông khắc khổ quá, còn chiếc mũi khoằm và khuôn mặt hom hem làm ông ta như một lão phù thủy. Phát gớm!

Với một chiếc thước gỗ gõ bồm bộp, ông ta trợn đôi mắt đã lòa nhòa, hỏi tôi:

“Mày là một kẻ phản đạo?”

Không, đấy không phải một câu hỏi. Đấy là một lời buộc tội đang chờ mi thừa nhận. Tự nhiên sự kinh hoảng trải đầy khắp người tôi, khiến tôi chỉ biết đứng đực mặt ra. Ông giáo không nói gì cả mà chỉ nhìn tôi. Thà rằng ông ta đã rầy la. Thà rằng ông ta cho tôi lí do để cự cãi.

“Thưa khô-“

“Ồ” Ông giáo thở phì ra, và bắt đầu nói bằng cái giọng khinh thị của ông ta “Có người đã mật báo cho ta, trò có những phát ngôn bất kính với thần linh. Thảo nào mà thần linh không ban phước cho Fortuna nữa. Dạo gần đây tai họa xảy ra nhiều quá, hẳn là do có kẻ không thành tâm đã làm phật lòng thần linh.”

“Thưa thầy-“ Tôi muốn nói rằng “sao có thể như vậy được!”, nhưng lời phát ra lại là “-em không làm như vậy ạ.”

“Thế à?” Ông giáo nhướng mày lên, trông ông ta có một vẻ tinh tướng rất bực mình, giờ phút này thì vẻ tinh tướng đó làm cho ông ta vô cùng đáng sợ. “Trò kia, trò lên đây.”

Tôi ngẩng đầu lên, toan nhìn xem kẻ xấu số bị ông ta tóm cổ lên là ai. Ôi, không ai khác, đó chính là thằng N*. Sao lại là thằng N*?

“Trò nói xem hôm đó nó đã nói những gì?”

“Thưa thầy!” Thằng N* nói rõng rạc, trông nó thật là tự tin, nó nhìn ông giáo già bằng đôi mắt hết mực trung hậu, có lẽ cả đời này tôi chưa từng thấy được ở ai bao giờ. Đôi mắt kiên định quá, tưởng như tôi thực sự trở thành một kẻ tội đồ cần được gột rửa. “Thằng nhóc này đã nói Thần linh chỉ là một kẻ tầm thường, vô năng và những ai thờ phụng ngài là lũ súc vật lố bịch!”

Tôi cũng không rõ liệu N* có nói oan cho tôi không. Tôi chỉ biết là người bạn duy nhất của tôi đã phản bội tôi với một nụ cười đắc thắng. Tôi khô khốc nhìn lên bức tường trước mắt, bức tượng khắc hình Sparda đang đối mặt với tôi, nét mặt của nó buồn rầu, tựa hồ đôi mắt sâu hoắm kia nhỏ ra một hai giọt lệ đỏ như máu.

Trước khi bị người của giáo hội đem đi, tôi lén chạy đến tìm N*.

“Sao mày lại tiết lộ chuyện mình nói với nhau? Đấy chỉ là chuyện phiếm thôi mà. Hơn nữa mày cũng bảo mày không tin vào Sparda.”

Hình như tôi đã hỏi N* bằng một thái độ đầy ngây dại, những tưởng mọi thứ chỉ là hiểu lầm mà thôi. N* cười nhếch mép.

“Ngu như mày thì xứng đáng bị đâm sau lưng suốt đời! Tao đã ngứa mắt mày từ lâu rồi. Loại con hoang như mày mà xứng chơi với tao? Đã thế còn ngu si, bị bọn nó đánh cho mà vẫn cố la liếm ông đây! Mà này, ông nói cho mày nghe, để mày đỡ tưởng bở! Ông bà già nhà mày ấy, họ nhận nuôi mày trước nhất là vì mày trông giống như Sparda đó thôi, thứ hai là vì con nhóc nhà đấy có vẻ vừa lòng với mày nữa! Mày được ở lại đấy là vì mày còn có giá trị, thế đấy!”

Sau này tôi nghĩ rằng thằng N* có lẽ không hẳn là một thằng khốn đến vậy. Ý tôi là, nó là một thằng khốn, nhưng nếu không nhờ có nó thì tôi đã bị giam trong những bức tường ấy suốt đời.

Tôi không nhớ được gì nhiều, có vẻ như tôi đã phải chịu một hình phạt khủng khiếp gì đó, đau đớn và những cơn sốc khủng khiếp đến độ bộ não của tôi chọn quên đi những ngày khốn cùng ấy. Gia đình tôi cũng không cầu xin giúp tôi. Cha, mẹ và Credo cảm thấy tôi là một nỗi ô nhục, còn Kyrie, dù có lo lắng cho tôi, cô cũng chỉ im lặng, kính cẩn nghe lời mà nép sau lưng cha mẹ mình. Tôi đã bị sốt nhiều ngày, đầu đau như búa bổ và không ăn được gì tử tế. Tôi sắp chết đói, nhưng không buồn ăn uống gì hết.

Bỗng nhiên một ngày nọ người của giáo hội đưa tôi trở về nhà, và khi tỉnh lại, tôi thấy tay phải của mình biến dạng. Bên chi ấy giờ mang hình thù kì dị, nó có lớp da sần sùi và cứng hơn bất cứ thứ kim loại gì, móng vuốt bén ngọt hơn cả những thanh đao tốt nhất từng được tạo ra, bên trên cánh tay, những vết nứt không đều tỏa ra ánh sáng xanh yêu dị và lạnh lẽo.

Người của giáo hội cho rằng tôi đã ăn năn đủ nhiều sau khi bị trừng phạt và thần linh đã tặng cho tôi một phần sức mạnh của ngài. Do đó, tôi được thả, thậm chí chỉ một hai năm sau khi đến độ niên thiếu, giáo hội đã ban tước Thánh kỵ sĩ cho tôi, để một đứa nhóc mười mấy tuổi ngồi ngang hàng với những tiền bối đi trước như Credo...

Thế giới trước mắt tôi đang chuyển sang một gam màu khác. Mọi thứ không còn sắc trắng tinh khôi hay là rực rỡ màu hồng nữa, mà là một cái gì lạ lẫm hơn. Đó là sự va chạm giữa những thế giới, khi bên trong và bên ngoài bức tường chèn ép lấy nhau, để đến lúc chúng không thể nhún nhường nhau nữa và bùng nổ.

Quãng thời gian trước đây, thế giới bên trong này là của lương tâm, bước vào trong là để tôi gặp những bàn tay đã được rửa sạch, quần áo tươm tất, lời nói và cử chỉ gương mẫu, thánh thần, cha và mẹ và sự tha thứ chở che. Giờ đây, nó hình như đang hợp thành một với thế giới bên ngoài, nơi những câu chuyện đáng sợ kí sinh trên những bức tường và trú ngụ trong hơi thở của những con vật đi bằng hai chân. Những con vật đó chạy lông nhông – chúng cãi cọ, khóc lóc, la ó, trộm cắp, giết hại nhau và tự tử. Thế giới ấy đang trung hòa và dần dần ứa ra chất độc.

Tôi không biết mình nên sợ hãi hay vui mừng. Tôi chưa từng biết đến đúng sai, tôi chỉ chạy theo cảm tính của mình mà thôi. Tôi không muốn bị buộc tội...

...Tôi...

...Tôi muốn để những mùa hạ mờ mịt hoặc đau thương ấy mòn héo và chết đi, thế mà chúng vẫn ở đó, âm ỉ, và rồi bùng cháy lại như thể được đổ thêm dầu. Mùa hạ năm nay, tôi không còn là thiếu niên năm ấy nữa, tôi đã hơn hai mươi tuổi, đã trải qua cơ số chuyện bi ai trên đời rồi. Một cái cây quỷ mọc giữa lòng đô thị, hàng tá người chết mỗi ngày, địa ngục trồi lên mặt đất. Quá nhiều thứ xảy ra, nhưng tại sao lại là người đàn ông đó? Người đàn ông bất chợt xuất hiện với thân phận là cha của tôi. Mái tóc người đó, ánh bạc như một biển sao. Đôi mắt ấy, xanh thăm thẳm như thể biển xa đang vẫy gọi, ẩn sâu trong đó là biết bao suy tư xa xăm.

Nó làm cho tôi – Nó làm cho Nero, một thằng nhóc đã không còn dòng nước mắt tràn chề nào để khóc nữa, đột nhiên mắt ngấn lệ.